Câu chuyện về một nhà giáo muốn được xã hội công nhận “nên duyên” với khát khao đời mình, nhưng bị cự tuyệt thẳng thừng bởi những kẻ tự xưng là đại diện “họ nhà gái”. Qua những lát cắt về cuộc đời Tự và cả những người xung quanh, Ma Văn Kháng đã làm ta ấn tượng với những lời lẽ chua chát rằng đời là một vại dưa muối hỏng, nếu cuộc sống là một người mẹ thì nó chỉ là một người mẹ ghẻ  mà thôi.

review sach dam cuoi khong co giay gia thu copy

“Đời là một vại dưa muối hỏng”

Một hôm khi bước vào lớp học, Tự nhìn thấy trên bảng viết dòng chữ  “Đời là một vại dưa muối hỏng”, không giống một trò đùa, dòng chữ lớn được viết ngay ngắn một cách đầy ý thức và anh đã thảo luận với học trò về chủ đề này.

Câu nói dường như bông đùa lại rất có tính khái quát về xã hội hiện thời. Nhà văn không để Tự, Kha, hoặc một nhân vật nào khác đề cập đến luận điểm này, mà để chính những học sinh nói lên điều này, có dụng ý gì chăng? Phải chăng, xã hội này đã băng hoại đến mức cả những học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường cũng nhận thức được chứ không cần đến những người sâu sắc như Tự? Nên buồn vì thực tại xã hội khắc nghiệt hay vui vì những học sinh đều ý thức được xã hội này đã “hỏng”?

Sau những gì Tự chứng kiến và trải qua, xã hội này đã thực sự trở thành một vại dưa hỏng khi “kẻ xấu thịnh đạt, người tốt ôm hận và chỉ biết trách mình.”

Khi Tự vẫn còn dạy học ở một trường tại vùng cao, chỉ vì “đắc tội” bí thư thị ủy mà Tự bị đưa ra chiến trường, những tội danh được ra ra như “kiêu căng, tự phụ, luyến ái bất chính, quan điểm lập trường giai cấp rất kém cỏi, lại có nhiều điều tiếng về các vụ việc nghi vấn. Kỷ luật thì chưa được.”. Tội danh được ra mà không cần bằng chứng, kết tội mà không cần phiên tòa; đó chính là “thiện ý” của ngài bí thư thị ủy.

Tại trường học, nơi dùng để trồng người, những nhà giáo lại là những người có vấn đề nhất về mặt đạo đức. Cẩm, hiệu trưởng nhà trường, xuất thân thì khỏi chê, ba đời là mõ, chỉ mới học hết lớp 7, sau đó trở thành thầy giáo thể dục, rồi hiệu trưởng trường cấp hai, giáo viên cấp ba, rồi cuối cùng thành hiệu trưởng trường trung học số 5 này. Một đường thăng tiến, Cẩm vẫn không bỏ được cái “tư cách mõ” của mình; “tham lam vô độ, bần tiện và liều lĩnh”. Nhưng khi Cẩm được bổ nhiệm làm hiệu trưởng ai mà quan tâm điều đó chứ, người ta chỉ nghĩ “đã là Đảng viên thì làm lãnh đạo được. Lãnh đạo khó nhất mà còn làm được thì có việc gì mà chịu bó tay”. Một niềm tin ngây thơ tạo nên một cuộc “cưỡng hôn thô lỗ” và điều này có thể giết chết tương lai của cả một thế hệ học sinh dưới mái trường trung học số 5. Dương, bí thư chi bộ nhà trường, một con người cổ hủ, chỉ luôn miệng những nguyên tắc cứng nhắc và những giáo điều đôi khi đến chính ông ta cũng không hiểu. Thuật, giáo viên toán học, một thiên tài toán học nhưng bị cuốn vào guồng quay của tiền tài. Thảnh, giáo viên hóa học, người luôn chỉ biết bảo vệ lợi ích bản thân và cố chiếm nhiều món hời nhất có thể.

Tại khu nhà Tự sống, Xuyến, vợ của anh là một người chỉ biết quan tâm đến tiền tài, khinh khi chồng vì không kiếm được tiền. Trình, một cô bé tật nguyền giờ trở thành một người đầy ác ý. Quỳnh, người mới dọn đến thì dụ dỗ Xuyến ngoại tình với gã.

Ma Văn Kháng đã khắc hoạ một xã hội băng hoại đạo đức, một thời đại “thịnh thế của cái ác”, trong mỗi sự kiện, mỗi lát cắt của cuộc sống đều hiện hữu cái xấu, cái ác. Dù sự miêu tả của ông có đôi phần thái quá, nhưng nó làm ta nhận ra cái xấu vẫn luôn tồn tại và không thể nào xóa bỏ. Không có gì là tuyệt đối, và sẽ không có một xã hội toàn những điều tốt đẹp. Và vì cuộc đời là một cái vại, chúng ta luôn ở cùng nhau, nên chỉ cần còn tồn tại một nhân tố xấu thì cái xấu ấy sẽ lây lan mạnh mẽ. Cũng như Xuyến và Trình, hai nhân vật này đã bị thay đổi từ hai người hiền lành, chất phác trở thành người hám lợi, quái ác. Và thế là cuộc đời trở thành “một vại dưa muối hỏng”. Nhận thức được thực tại bi kịch nhưng không cách nào thay đổi, câu bông đùa “đời là một vại dưa muối hỏng” là một cách nói có vẻ tinh nghịch nhưng cũng đầy chua chát về về cuộc đời.

“Một cuốn sách hay đặt lầm chỗ”

Thuật đã nhận xét cuộc đời Tự như thế này: “Ông là một cuốn sách hay để lầm chỗ. Một đám cưới không thành. Một bữa tiệc dang dở.” Tính cách của Tự không hợp với trường trung học số 5 và với cả vợ mình. Tự là một số phận bi kịch khi là một trí thức nhưng suốt ngày bị vây quanh bởi cơm áo gạo tiền, bị vợ chì chiết vì đồng lương còm cõi.

Trong quyển sách này, bị đặt sai chỗ không chỉ có Tự, mà là tất cả những người trí thức vào thời điểm ấy. Người trí thức trong câu chuyện được miêu tả là không được thừa nhận, chỉ là kẻ đứng bên lề của mọi sự. Đó là ông giáo Biểu, cha của Tự: “ông giáo Biểu tuy đứng cùng một đội ngũ với ông bí thư huyện ủy, anh cán bộ thuế nông nghiệp, chị huyện hội phụ nữ, chú giám mã huyện đội… nhưng trong đối xử, vẫn bị gạt ngầm sang một phía khác, nếu không bị coi là kẻ có vấn đề nghi vấn về chính trị, thì giỏi lắm cũng chỉ là một “nhân sĩ tiến bộ” – một tầng lớp bị cười mũi và miệt thị ngầm.”

Và người ta đã nhận xét những người trí thức như thế này: “Trí thức là một tầng lớp hay dao động, cần phải giáo dục” là những người có “bản chất bạch vệ và xu hướng vô chính phủ, tự do tư sản”; anh họ của học trò Tự, một người đã từng là cán bộ địa phương thể hiện rõ bản thân coi thường tri thức khi nói “Mẹ nó chứ, cấp hai là cái đ. gì mà nó đưa vào thành tiêu chuẩn cấp ủy để làm hại mình”.

Đúng là một điều vừa bi vừa hài, muốn phát triển nhưng không muốn thừa nhận địa vị của người trí thức. “Một cuốn sách hay đặt lầm chỗ” đã tạo nên bi kịch cuộc đời Tự và biết bao trí thức có hoài bão và ước mơ khác. Qua tác phẩm, Ma Văn Kháng đã gợi mở cho chúng ta những vấn đề đầy day dứt trong thời điểm ấy, vấn đề tri thức cần có một chỗ đứng xứng đáng, mà không phải chỉ là một “công cụ” trong những cuộc “tranh quyền đoạt lợi”.

Có người nói, trong tác phẩm này, Ma Văn Kháng nói quá nhiều về cái xấu. Nhưng như vậy không phải cái đẹp càng được tôn vinh và nổi bật sao? Giữa lúc mà “tôn sư trọng đạo” bị cho là những gì thuộc về lễ giáo phong kiến và bị xem nhẹ, những người xung quanh chạy theo lợi ích của tiền tại, Tự vẫn luôn hoàn thành thiên chức của một người thầy. Tự có một khát vọng mãnh liệt, đó là được công nhận bởi “thước đo chính thống của thời đại”, bước vào đội ngũ những con người ưu tú, làm hiển vinh dân tộc. Đây là khát khao được hòa nhập cộng đồng của Tự, dù đời chỉ là “một người mẹ ghẻ”, “một vại dưa muối hỏng”, Tự vẫn mong muốn được sự chấp thuận từ xã hội ấy để hòa nhập vào cộng đồng. Thế nhưng bao lần Tự bị từ chối thẳng thừng. Và sau cùng, Tự đã nhận ra rằng, một đám cưới không nhất thiết cần có giấy giá thú, Tự cũng không cần sự đồng ý của “những kẻ thô lậu” ấy để được sống với lý tưởng của mình. Một đám cưới có thể không có giấy giá thú, một con người cũng có thể sống với ước vọng của mình mà không có sự chấp thuận của người đời.